
Trẻ em là đối tượng nhạy
cảm rất dễ có nguy cơ mắc nhiều loại bệnh khác nhau. Khi bị mắc bệnh,
phụ huynh không được tự ý tùy tiện mua và sử dụng thuốc điều trị mà phải
đưa trẻ đi khám để thầy thuốc kê đơn, tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc
một cách an toàn, hợp lý vì trẻ có những đặc điểm cần lưu ý nếu phải
dùng thuốc.
Các nhà khoa học khuyến cáo trẻ em không
phải là người lớn thu nhỏ, vì trẻ có những đặc điểm cần lưu ý khi sử
dụng thuốc điều trị. Thực tế liều thuốc dùng cho trẻ em khác hẳn với
liều thuốc dùng cho người lớn, do đó tuyệt đối không được dùng liều
thuốc người lớn rồi tùy tiện suy diễn tính ra liều thuốc đối với trẻ em;
đặc biệt là trẻ sơ sinh, trẻ sinh thiếu tháng, trẻ đang còn bú sữa mẹ.
Theo quy định, có những loại thuốc được chỉ định sử dụng dành cho người
lớn nhưng lại cấm dùng đối với trẻ em như: thuốc kháng sinh
chloramphenicol, tetracyclin; các chế phẩm từ thuốc phiện, nội tiết tố
sinh dục, thuốc amphetamin… Do đó, phụ huynh cần giám sát chặt chẽ,
không được cho trẻ tự ý dùng thuốc và phải để thuốc ở vị trí kín đáo,
ngoài tầm tay với đến của trẻ nhằm bảo đảm sự an toàn. Trẻ em có các đặc
điểm về sự hấp thu thuốc, phân phối thuốc trong cơ thể; có hàng rào
máu-não chưa hoàn chỉnh, có sự chuyển hóa thuốc và thải trừ thuốc qua
thận khác biệt so với người lớn.
Hấp thu thuốc ở trẻ em
Trẻ em có đặc điểm niêm mạc dà dày chưa
phát triển đầy đủ nên thiếu chất axít chlorhydric trong dịch vị, độ acid
của dạ dày chỉ đạt đến mức của người lớn khi trẻ đủ 20 – 30 tháng tuổi.
Thời gian tháo sạch của dạ dày trẻ thường kéo dài và không đều, chỉ đạt
mức độ như người lớn khi trẻ được 6 – 8 tháng tuổi. Đồng thời, nhu động
ruột của trẻ hoạt động thất thường cùng với niêm mạc ruột chưa trưởng
thành, chức năng mật chưa phát triển đầy đủ… nên việc hấp thu thuốc ở hệ
tiêu hóa của trẻ sơ sinh và trẻ đang bú sữa mẹ còn rất kém và có sự sai
lạc đối với các loại thuốc phenobarbital, paracetamol, phenytoin,
carbamazepin, rifampicin…
Nếu đặt thuốc đạn vào trực tràng, thuốc
được hấp thu rất mạnh và nhanh chóng đạt nồng độ cao ở trong máu của trẻ
nên dễ gây độc như đặt thuốc đạn có chứa theophylin có thể gây co giật
hoặc thuốc đạn có chứa diazepam có thể đạt nồng độ thuốc cao ở trong máu
giống như tiêm tĩnh mạch.
Khi tiêm thuốc vào bắp thịt, lưu lượng
máu ở cơ vân khi trẻ mới sinh còn kém, co bóp cơ vân hạn chế, có lượng
nước nhiều trong khối cơ vân nên nhiều loại thuốc có sự hấp thu chậm và
thất thường nếu tiêm bắp thịt các loại thuốc như: gentamycin,
phenobarbital, diazepam…
Khi bôi thuốc ngoài da cho trẻ sơ sinh
và trẻ nhỏ tuổi, cần đặc biệt lưu ý vì da trẻ bị hydrat hóa mạnh, lớp
sừng ở da mỏng, hàng rào biểu mô chưa trưởng thành nên việc bôi thuốc dễ
gây ra tình trạng kích ứng hay dị ứng; có khi gây độc toàn thân nếu bôi
các loại thuốc dạng bào chế dùng ngoài da có chứa axít boric,
hexaclorophen, salicylat, neomycin, benzyl benzoat, xanh methylen, thuốc
đỏ… Việc lạm dụng các loại thuốc bôi ngoài da có chứa chất iod như:
rượu iod, povidon iod… cho trẻ để sát khuẩn, chống nấm cũng có thể gây
ngộ độc chất iod và làm cho trẻ có một số biến chứng khác như bị bướu cổ
kèm theo giảm khả năng hoạt động của tuyến giáp trạng. Dùng chất tinh
dầu long não bôi ngoài da cho trẻ có thể kích thích thần kinh, gây co
giật. Sử dụng tinh cầu có chứa chất pinen, eucalyptol, thymol, menthol,
gaiacol… bôi qua da cũng có khả năng hấp thu vào trong cơ thể trẻ và gây
độc. Nếu bôi thuốc, tinh dầu kèm theo xoa bóp mạnh có thể làm tăng
nhiệt độ của da, tăng tốc độ hấp thu của thuốc, tinh dầu và có thể gây
độc toàn thân như trường hợp xoa xóp rượu ethylic, rượu thuốc, methyl
salicylat, thuốc chống viêm giảm đau, thuốc mỡ corticoid… Cần lưu ý
tuyệt đối không được dùng băng dính chứa thuốc để dán cho trẻ nhỏ hoặc
bôi thuốc rồi băng chặt lại nếu dùng thuốc corticoid, thuốc giảm đau
chống viêm không steroid.
Phân phối thuốc trong cơ thể trẻ
Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, thuốc sử dụng
thường gắn kém vào protein của huyết tương vì hàm lượng albumin của
huyết tương giảm cộng thêm với albumin thai nhi có chất lượng yếu nên
chưa gắn được thuốc. Đồng thời hàm lượng chất bilirubin tự do và chất
béo tự do trong máu tăng cao sẽ chiếm chỗ gắn của thuốc vào protein của
huyết tương. Vì vậy, đối với các loại thuốc không gắn mạnh vào protein
của huyết tương thì dạng thuốc tự do không gắn được của thuốc sẽ tăng
lên và phân phối càng nhiều vào mô tế bào, kéo theo đó làm tăng tác dụng
độc tính khi sử dụng thuốc digoxin, salicylat, phenytoin, theophylin,
phenobarbital…
Hàng rào máu – não ở trẻ em
Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, hàng rào
máu – não chưa phát triển đầy đủ nên lưu lượng máu đến não ở trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ thường cao hơn người lớn. Do đó nên thuốc dễ ngấm vào hệ
thần kinh trung ương nhanh hơn, nhiều hơn ở người lớn dẫn đến tác dụng
và độc tính của thuốc trên hệ thần kinh trung ương sẽ tăng lên khi sử
dụng các loại thuốc ngủ, an thần, chế phẩm có chất thuốc phiện…
Chuyển hóa thuốc ở trẻ em
Thực tế gan của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
chưa phát triển đầy đủ và trưởng thành nên nhiều loại thuốc khi sử dụng
khó chuyển hóa được ở gan; chất mẹ tích tụ lại, không thải trừ được và
sẽ gây độc nếu sử dụng các loại thuốc như: diazepam, phenobarbital,
paracetamol, theophylin, tolbutamid, chloramphenicol…
Thải trừ thuốc qua thận ở trẻ em
Lúc trẻ mới sinh và trẻ nhỏ, chức năng
thấm lọc của cầu thận và thải trừ thuốc sử dụng qua ống thận còn rất
yếu; đồng thời lưu lượng máu qua thận cũng kém. Vì vậy đối với các loại
thuốc thải qua thận sẽ kém được loại trừ, chúng có thể tích lũy lại
trong cơ thể và gây độc. Vì vậy cần thận trong khi sử dụng các loại
kháng sinh nhóm aminoglycosid, aspirin, sulfamid, penicillin,
paracetamol, digoxin, phenobarbital, furosemid…
Nguồn tin: shopdochoicuabe.blogspot.com
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét