Hẹp bao quy đầu là
tình trạng lớp da ở phần đầu của dương vật không tụt được xuống để lộ
phần quy đầu dương vật, khiến việc vệ sinh khó khăn, làm tăng nguy cơ
viêm nhiễm, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và tình dục sau này.
Khi mới sinh, đa số trẻ có tình trạng
hẹp bao quy đầu sinh lý, tức là bao quy đầu không kéo tuột xuống được do
có tình trạng dính tự nhiên giữa bao quy đầu và quy đầu. Trong 3 – 4
năm đầu, do dương vật to ra, lớp bề mặt da (gọi là thượng bì) bong ra,
tích tụ lại thành chất bợn nằm bên dưới da quy đầu, giúp bao quy đầu
tách dần khỏi quy đầu. Nhờ những lần dương vật cương khi buồn tiểu, khi
ngủ mà bao quy đầu tự tuột hẳn xuống được. Khi trẻ được 3 tuổi, 90% bao
quy đầu tuột xuống được.
Cha mẹ nên đưa trẻ đi khám nếu có biểu hiện hẹp bao quy đầu để có tư vấn can thiệp phù hợp.
Hiện nay còn nhiều bậc cha mẹ chưa ý
thức được việc kiểm tra xem con mình có bị hẹp bao quy đầu hay không,
đồng thời cũng không biết cách vệ sinh sạch sẽ, sự tích tụ các chất cặn
trong nước tiểu và dịch nhầy của đường tiết niệu đọng ở nếp da quy đầu.
Đây chính là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nhanh chóng,
dẫn đến viêm nhiễm đường tiết niệu, ảnh hưởng tới thận, gây khó khăn
trong quan hệ tình dục sau này, thậm chí có thể là nguyên nhân dẫn tới
ung thư dương vật.
Dấu hiệu nhận biết trẻ bị hẹp bao quy đầu
Cha mẹ có thể phát hiện con bị hẹp hay không bằng cách sau:
– Vạch da quy đầu của bé xem lỗ có hẹp không, bao quy đầu có lộn ra ngoài được không.
– Để ý quan sát, nếu thấy trẻ gặp khó
khăn khi đi tiểu, bí tiểu: Trẻ thường phải rặn khi đi tiểu. Bao da quy
đầu căng phồng như bong bóng. Tia nước tiểu yếu. Nhiều trẻ khóc thét và
sợ hãi mỗi lần đi tiểu.
– Ngoài ra trẻ hay có biểu hiện ngứa
ngáy bộ phận sinh dục, thường do không được vệ sinh đúng cách, các chất
cặn bã tích tụ lại bên trong bao quy đầu gây viêm nhiễm.
Cha mẹ cần làm gì?
Có tới gần 90% trẻ mới sinh bị hẹp bao
quy đầu sinh lý, nhưng sau đó cùng với thời gian, da bao quy đầu sẽ tách
khỏi quy đầu. Đối với những trường hợp này bố mẹ nên chú ý nong bao quy
đầu cho trẻ mỗi lần đi tắm thật nhẹ nhàng để phần bao da quy đầu dần lộ
xuống. Thời điểm nong lộn bao quy đầu thích hợp nhất là khi trẻ dưới
một tuổi vì giai đoạn này da quy đầu của các bé mỏng, độ đàn hồi cao.
Nếu sau một thời gian, bao quy đầu trẻ
vẫn không lộn xuống được, trẻ có biểu hiện khó khăn trong khi đi tiểu
hay bị viêm nhiễm cha mẹ cần đưa trẻ đến cơ sở y tế chuyên khoa khám để
bác sĩ có chỉ định can thiệp đúng cách. Tùy theo độ tuổi và tình trạng
hẹp của bao quy đầu mà bác sĩ sẽ lựa chọn biện pháp xử trí phù hợp.
Mồ hôi trộm là hiện tượng
ra mồ hôi không liên quan đến nhiệt độ môi trường, dù trời nóng hay
lạnh, và chỉ bị khi trẻ ngủ. Mồ hôi trộm xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng
mắc nhiều ở trẻ em.
Theo y học cổ truyền, mồ hôi trộm là do
chân âm hư yếu, cơ thể không giữ được tân dịch, nhiệt thịnh gây ra nóng
trong. Dưới đây là một số món ăn, nước uống để các bậc phụ huynh tham
khảo và áp dụng chữa cho con em mình.
Cháo gốc hẹ: Gốc hẹ 30g, gạo 50g, thịt lợn nạc 50g, gia vị vừa đủ.
Gốc hẹ chọn phần thân sát củ, rửa sạch giã nhỏ lọc lấy 200ml nước đặc.
Thịt lợn nạc băm nhỏ ướp bột gia vị xào chín. Gạo xay thành bột, cho vào
nước gốc hẹ quấy đều, đun trên lửa nhỏ, khi cháo chín cho thịt lợn, bột
ngọt vào đảo đều, cháo sôi lên là được. Cho trẻ ăn ngày một lần, cần ăn
liền 2 – 3 ngày, nếu trẻ nhỏ chưa ăn được thì lọc lấy nước cho uống.
Cháo chạch: Cá chạch đồng 100g, gạo 50g, dầu thực vật, bột ngọt, gia vị vừa đủ.
Cá chạch làm sạch, bỏ đầu, nội tạng, đuôi, đem hấp cách thủy cho chín,
gỡ lấy thịt, ướp bột gia vị, xào bằng dầu thực vật. Xương chạch giã nhỏ
lọc lấy 200ml nước ngọt. Gạo xay thành bột cho vào nước lọc, xương chạch
quấy đều đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho thịt chạch và gia vị vào
đảo đều. Cháo sôi lại là được. Ăn một lần trong ngày lúc đói, cần ăn
liền 3 ngày.
Cháo cá quả: Cá quả một con (200g), gạo 50g, ngũ vị 2g, gia vị vừa đủ.
Cá quả làm sạch, bỏ nội tạng, đem hấp cách thủy, gỡ lấy thịt nạc, ướp
bột gia vị. Xương cá giã nhỏ lọc lấy 200ml nước ngọt. Gạo, ngũ vị xay
thành bột mịn, cho vào nước lọc xương cá quấy đều đun trên lửa nhỏ, khi
cháo chín, cho gia vị, thịt cá vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ăn
ngày một lần lúc đói, cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Cháo trai: Trai đồng 5 con loại vừa, lá dâu non 30g, gạo nếp 50g, gạo tẻ 50g, dầu thực vật, bột gia vị vừa đủ.
Pha nước muối loãng ngâm trai, sau một giờ vớt ra rửa sạch, cho vào nồi
luộc, nhặt lấy ruột trai và lọc lấy nước trong. Ruột trai bỏ hết phần
đất, thái nhỏ ướp gia vị, dùng dầu thực vật xào cho thơm. Lá dâu non rửa
sạch thái nhỏ, gạo tẻ, gạo nếp xay thành bột mịn, cho thêm nước vào
nước luộc trai, cho bột gạo vào quấy đều, đun nhỏ lửa, khi cháo chín cho
trai, lá dâu, nêm vừa gia vị, cháo sôi lại là được. Ngày ăn 2 lần lúc
đói, cần ăn liền trong 4 – 5 ngày
Cháo sò, hến: Sò biển 100g, hến 100g, gạo 50g, rễ cây hẹ 3g, gia vị vừa đủ.
Sò, hến đem rửa sạch, hấp cách thủy rồi bỏ vỏ, ruột thái nhỏ, ướp bột
gia vị. Rễ cây hẹ rửa sạch giã nhỏ lọc lấy 200ml nước. Gạo xay nhỏ mịn
cho vào nước rễ cây hẹ quấy đều, đun nhỏ lửa. Khi cháo chín cho sò biển
và hến vào đảo đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày một lần lúc đói. Cần
ăn liền 3 – 5 ngày.
Canh lá dâu: Lá dâu non 50g, thịt lợn nạc 100g, bột ngọt, gia vị vừa đủ.
Lá dâu non rửa sạch thái nhỏ, thịt lợn nạc băm nhỏ ướp bột gia vị, xào
chín, thêm 200ml nước đun sôi, cho lá dâu đảo đều, canh sôi lại cho bột
ngọt là được. Ăn ngày một lần với cơm, ăn liền 5 ngày.
Nước đậu đen: Đậu đen 50g, long nhãn 15g, táo tàu 5 quả.
Đậu đen đem rang chín, cho vào nồi cùng long nhãn, táo tàu, thêm 300ml
nước đun nhỏ lửa, khi còn 200ml chắt lấy nước, chia làm 4 lần uống trong
ngày. Cần uống liền 3 ngày.
Nước mộc nhĩ: Mộc nhĩ 20g, táo tàu 5 quả.
Mộc nhĩ rửa sạch cùng táo tàu cho vào nồi thêm 300ml nước đun sôi kỹ
chắt lấy 150ml, chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 5 ngày.
Trong bài viết đang
gây sự chú ý của những người quan tâm tới giáo dục, bạn Hoàng Huy viết:
“Bố mẹ Việt đang nhầm lẫn tai hại giữa: học Tốt và học Giỏi, nhiều phụ
huynh cứ có niềm tin mù quáng là con cứ học giỏi là chắc chắn là có vé
đi ga “Tương Lai Hạnh Phúc”. Dưới đây là nội dung bài viết.
Ăn thì phải no, học thì phải giỏi, yêu
là phải cưới, cưới là phải sinh con, sinh con thì con cũng phải học
giỏi, học giỏi là phải trường chuyên, trường chuyên nhưng còn phải lớp
xịn, lớp xịn là phải đỗ đại học, đại học là phải top đầu, top đầu là
phải……không thất nghiệp, và không thất nghiệp…..rất có thể phải “chạy” –
điều mà những người Giỏi thực sự không bao giờ làm.
Bạn thấy đấy, rất nhiều nghịch lý luẩn
quẩn hiện có trong xã hội của chúng ta đều ít nhiều liên quan đến một
từ: GIỎI. Tuy nhiên, đã bao giờ bạn nghĩ chúng ta chẳng nên cố bằng mọi
giá để học quá giỏi? Dưới đây là 5 lý do mà bạn có thể sẽ cực kỳ “phản
đối” !
1. Để học giỏi ở Việt Nam cần
phải tốn quá nhiều thời gian cho việc học, học trên lớp, học ở nhà, học
thêm, học phụ đạo……trong khi một ngày mãi mãi cũng chỉ có 24 giờ do đó,
thời gian dành cho những thói quen lành mạnh như chơi thể thao, thư giãn
rèn luyện thân thể không có nhiều và càng học lên cao càng bị cắt ngắn,
dẫn đến nguy cơ lâu dài: sức khoẻ yếu. Sức khoẻ yếu, học giỏi vô nghĩa!
2. Để học giỏi ở Việt Nam, bạn
cần phải “học đều” – một khái niệm đặc sản nhưng không hề thơm ngon của
nền giáo dục Việt Nam, tức là phải học giỏi tất cả các môn, đầu tư thời
gian dàn trải để giỏi tất cả các môn đồng nghĩa là rất khó cho bạn để có
chặng nghỉ nghĩ về những gì mình yêu thích nhất và có tiềm năng phát
triển nhất. Rất nhiều học sinh giỏi cái gì cũng giỏi nhưng chẳng thật sự
giỏi cái gì. Rất nhiều học sinh khi được hỏi “Em thích làm gì nhất?”,
trả lời “Em không biết.” Một hành trang quá cồng kềnh và bị nhồi nhét
chỉ làm cho cuộc hành trình của bạn thêm mệt mỏi. Hãy biết chọn lọc!
3. Để hoc giỏi ở Việt Nam, bạn
cần phải hấp thụ rất nhiều kiến thức bạn học xong không biết để làm gì?
Không là kỹ sư, không theo nghiệp kỹ thuật, bạn sử dụng đạo hàm, sử dụng
hàm số, sử dụng tích phân để làm gì……….? Mà muốn sử dụng, bây giờ có vô
số phần mềm và ứng dụng làm thay con người những tính toán đó.Bạn có
định tự kéo cày trong khi nhà có trâu và có máy? Người ta hay nhắc bạn
tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, nhưng không ai nhắc bạn tiết kiệm tài
nguyên não của chính bạn.
4. Để học giỏi ở Việt Nam, ít
nhiều bạn bị mất một chút tự do, và buộc phải là bản sao tư duy của ai
đó. Nói đến Tấm là phải ngoan hiền, nói đến Cám là phải gian ác, trong
khi bạn đang nghĩ đến điều ngược lại, nhưng không được đâu, cô không
thích điều này! Bạn chưa hiểu, bạn cần học lại, học kỹ hơn, không được,
lớp cần 90% học sinh giỏi, chỉ tiêu chỉ được 10% học sinh khá, và tuyệt
nhiên không được ai ở lại lớp. Bạn cần phải là một bông hoa đẹp trong
vườn hoa toàn Học sinh Giỏi của cả lớp, của trường, trong cánh rừng học
sinh giỏi của Thành phố. Việc chấp nhận mất tự do tư duy từ nhỏ trong
học đường làm cho bạn dễ chấp nhận hơn với việc mất tự do trong cuộc
sống sau này.
5. Để học giỏi ở Việt Nam, cuộc
sống của bạn rất dễ bị mẻ, bị nứt, bị lệch và rất có thể bị vỡ nữa. Bạn
còn quá trẻ và non nớt, vì thế nên bạn cần đi học để trưởng thành lên
theo năm tháng, nhưng bố mẹ và thầy cô luôn cần bạn phải là số 1, không
được là số 2, nhất định phải là số 1, và họ thi nhau chất lên lưng bạn
những áp lực nặng nề mà chính bạn cũng không thể biết được đâu là tới
hạn. Đến khi bạn kém giao tiếp, ứng xử lúng túng, không biểu đạt ngay cả
những gì mình muốn nói, không tự tin giữa đám đông chỉ vì ngoài giờ học
bạn không còn người bạn thân nào hơn Facebook, Zalo và máy tính và điện
thoại, không có thời gian để quan sát cuộc sống tươi đẹp xung quanh.
Coi chừng! Rất có thể, đấy là cách những tờ giấy khen Học sinh giỏi âm
thầm đánh cắp tuổi thơ của bạn.
Bố mẹ Việt đang nhầm lẫn tai hại giữa:
học Tốt và học Giỏi, nhiều phụ huynh cứ có niềm tin mù quáng là con cứ
học giỏi là chắc chắn là có vé đi ga “Tương Lai Hạnh Phúc” thế là cứ cố
nhồi con học cho đến khi họ nhận ra sự thật bẽ bàng: học giỏi mà không
hạnh phúc thì còn bất hạnh hơn học dốt mà biết cái gì là tốt.
Vấn đề không nằm ở Bộ Giáo dục, mà nằm
ngay trong chính tâm thức mỗi ông bố bà mẹ: có dám để cho con mình học
dốt – học theo đúng năng lực của mình hay không, hay sợ dư luận chê
cười? Sợ đến chết!
Bên cạnh quyền được Khổ, quyền được Dốt cũng là một trong những quyền của học sinh đang bị phụ huynh Việt xâm phạm thô bạo.
Nếu con bạn là cây Tùng xin đừng trồng trong chậu, chăng đủ thứ đồ trang trí lên và gọi nó là cây Thông Noel.
Thôi thì, thà dốt theo cách của mình còn hơn giỏi theo cách của cả lớp.
Có không ít trường hợp trẻ
bị thương, bị tai nạn nhưng cha mẹ không biết cách sơ cứu khiến cho
tình trạng của con lại thêm nguy kịch.
Đối với trẻ nhỏ, môi trường xung quanh
luôn ẩn chứa nhiều hiểm họa. Để đảm bảo an toàn cho con, bố mẹ đã cố
gắng hạn chế tối đa cho con tiếp xúc với các thứ nguy hiểm. Tuy nhiên,
trẻ ở lứa tuổi hiếu động thì dù có lập rào chắn cũng không tránh được
tình huống đáng tiếc xảy ra. Do đó, nắm rõ một số cách sơ cứu cho trẻ
khi gặp phải tai nạn là kiến thức cần thiết đối với tất cả các bậc cha
mẹ. Dưới đây là những cách sơ cứu các tai nạn phổ biến thường gặp ở trẻ
nhỏ mà cha mẹ cần phải nắm rõ trong lòng bàn tay.
1. Sơ cứu khi bé nghẹn, hóc
Khi bé bị nghẹn, cách người lớn xử lý
ngay từ những phút đầu tiên là điều rất quan trọng, quyết định khả năng
thoát khỏi nguy hiểm của bé.
Việc nên làm:
– Cách 1: Cha mẹ nên đặt bé nằm sấp trên
đùi mình, đầu chúi về phía trước, thấp hơn phần thân, dùng tay chụm lại
và vỗ nhẹ vào lưng bé. Với những bé lớn trên 3 tuổi, mẹ có thể yêu cầu
bé đứng chúi đầu xuống đất, phần đầu thấp hơn ngực, rồi lấy tay vỗ vào
giữa hai xương bả vai của con khoảng 5-7 cái với động tác dứt khoát.
Cha mẹ nên đặt bé nằm sấp trên đùi mình, đầu chúi về phía trước, thấp hơn phần thân, dùng tay chụm lại và vỗ nhẹ vào lưng bé
– Cách sơ cứu thứ hai: Đặt bé nằm ngửa, đầu hơi ngửa ra đằng sau,
lưng dựa vào người cha mẹ, dùng hai ngón tay ấn vào khoảng giữa rốn và
phần cuối xương sườn khi ấn phải chú ý ấn vào bên trong và hơi đưa lên
trên, động tác phải dứt khoát, nhanh và mạnh. Với những bé lớn có thể
nắm lại thành quả đấm (ngón cái nằm trong) rồi cũng ấn mạnh vào khoảng
giữa rốn và phần cuối xương sườn của bé, hướng lên trên.
Lưu ý:
– Nếu trẻ vẫn tỉnh táo, hồng hào, không
khó thở, vẫn khóc được, nói được thì giữ nguyên thế ngồi, nhanh chóng
mang đến bệnh viện để bác sĩ kiểm tra, nếu đúng dị vật đường thở sẽ lấy
ra.
– Nếu trẻ có biểu hiện tím tái, khó thở
nặng, ngưng thở, không khóc được, không nói được thì sau khi gọi xe cấp
cứu, cần phải tiến hành thủ thuật can thiệp kịp thời trong thời gian đợi
xe tới.
– Khi trẻ bị hóc dị vật, cha mẹ tuyệt đối
không dùng tay móc họng trẻ. Điều này trong nhiều trường hợp sẽ khiến
dị vật đi vào sâu hơn, trầy xước họng gây sưng tấy, trẻ càng khó thở
hơn.
2. Sơ cứu khi bé bị bỏng
Khi con bị bỏng, nhiều cha mẹ học theo
mẹo của dân gian là sử dụng kem đánh răng, mỡ trăn, bơ hay một số thứ
khác được nghe truyền miệng lên vết bỏng của con. Tuy nhiên đây không
phải là một cách hay để sơ cứu khi trẻ bị bỏng.
Việc nên làm:
– Khi trẻ bị bỏng nhẹ, người lớn nên làm
mát vết bỏng, tránh cho da khỏi bị rộp bằng cách mở vòi nước cho chảy
chầm chậm lên vết bỏng khoảng 15 – 20 phút. Nước sạch vừa có tác dụng
giảm nhiệt, giảm đau, giảm phù nề, viêm nhiễm, giảm độ sâu của vết
thương. Không dùng nước lạnh, nước đá (trong tủ lạnh) để làm mát da cho
trẻ.
Khi
trẻ bị bỏng nhẹ, người lớn nên làm mát vết bỏng, tránh cho da khỏi bị
rộp bằng cách mở vòi nước cho chảy chầm chậm lên vết bỏng khoảng 15 – 20
phút
– Cắt bỏ toàn bộ phần áo quần che phủ vết bỏng, rồi lại dội thêm nước
mát lên vết thương. Chú ý không cởi bỏ quần áo để tránh gây lột da vùng
bỏng. Cũng không lộn áo qua đầu trẻ vì bạn có thể làm bé bị bỏng ở mặt.
– Che phủ vùng bỏng bằng gạc vô khuẩn. Nếu không có gạc có thể dùng vải sạch.
– Trong trường hợp trẻ bị bỏng ở mắt,
miệng hay bộ phận sinh dục, phải ngay lập tức đưa con đến cơ sở y tế gần
nhất dù trẻ chỉ bị bỏng nhẹ. Nếu vết bỏng rộng hơn 1 bàn tay, bị phồng
giộp hay kéo theo sốt, mẹ cũng nên xử trí tương tự.
Lưu ý:
– Không làm bể các vết bỏng bọng nước vì có thể làm vết bỏng nhiễm trùng nặng thêm.
– Không bôi các chất như nước mắm, giấm, mỡ, kem đánh răng, bùn non lên vết bỏng sẽ làm vết bỏng nhiễm trùng nặng.
– Không cần thiết phải kiêng cữ ăn các loại
thực phẩm như tôm, cua, thịt bò, thịt gà, rau muống, cam vì ăn những
thực phẩm này không hề gây sẹo. Trái lại, nếu kiêng cữ quá mức sẽ gây
thiếu chất dinh dưỡng, đặt biệt là chất đạm khiến vết bỏng chậm lành
– Không dùng các loại băng có lông tơ mịn hoặc các băng dính dán lên vùng bị bỏng.
3. Sơ cứu bé bị điện giật
Trẻ con rất hiếu động và tò mò. Trong khi
chơi đùa chúng rất hay sờ vào các thiết bị sử dụng điện như tủ lạnh,
nồi cơm, quạt… Điều này rất nguy hiểm nếu như nguồn điện bị hở khiến trẻ
bị điện giật. Do đó bố mẹ cần tỉnh tảo và nắm rõ cách sơ cứu cho trẻ
khi bị điện giật, tránh tình huống đáng tiếc xảy ra.
Trong
khi chơi đùa trẻ rất hay sờ vào các thiết bị sử dụng điện như tủ lạnh,
nồi cơm, quạt… Điều này rất nguy hiểm nếu như nguồn điện bị hở khiến trẻ
bị điện giật
Việc nên làm:
– Hãy cắt ngay nguồn điện nếu có thể. Nếu
không hãy tìm cách lấy nguồn điện ra khỏi người bé. Để làm điều này,
người lớn phải đứng trên vật liệu cách điện khô, như quyển danh bạ điện
thoại, và dùng thứ gì đó bằng vật liệu không dẫn điện như: nhựa, gỗ, vải
khô để tách bé và nguồn điện.
– Kiểm tra hơi thở của bé, để bé nằm
nghiêng qua một bên, co một đầu gối lên, hạ đầu bé xuống để bé không
nuốt phải nước dãi chảy ra. Đỡ cổ bằng một cái gối. Với trẻ sơ sinh, bế
trong tay, đỡ đầu và hướng mặt xuống để tránh bị nghẹn. Tư thế này giúp
bé thở dễ dàng hơn và không bị nghẹn.
– Nếu thấy trẻ bất tỉnh, cần kiểm tra
nhịp thở, mạch đập và tiến hành cấp cứu thổi ngạt ấn tim khi có ngưng
thở ngưng tim vì ngoài tổn thương bỏng điện tại chỗ, dòng điện còn có
thể đi qua tim phổi gây ngừng tim ngừng thở. Khi thấy trẻ ngừng thở
ngừng tim phải tiến hành hà hơi thổi ngạt – ép tim ngoài lồng ngực. Sau
đó, nhanh chóng đưa bé đến ngay cơ sở y tế.
Lưu ý:
– Với tai nạn này, cha mẹ cần hết sức
bình tĩnh để xử trí, nếu luống cuống có thể sẽ khiến cả bé và chính bản
thân mình gặp nguy hiểm. Không được chạm trực tiếp vào người bé nếu bé
vẫn còn trong nguồn điện.
4. Sơ cứu bé bị ngộ độc thực phẩm
Ngộ độc thực phẩm là bệnh mắc phải sau
khi ăn những thức ăn có một trong những tác nhân như do vi sinh vật, hóa
chất, hoặc các vật lạ như mảnh kim loại trong thức ăn. Thông thường ngộ
độc cấp tính sẽ xuất hiện sau vài phút, vài giờ hoặc1-2 ngày sau khi
ăn.
Việc nên làm:
– Để hạn chế độc tố ngấm vào cơ thể, điều đầu tiên người lớn nên làm là
kích thích để trẻ bị ngộ độc nôn những thức ăn trong dạ dày ra ngoài.
Pha một cốc nước muối loãng rồi cho trẻ bệnh uống, dùng tay đặt vào
lưỡi, ép cơ thể nôn được càng nhiều các thức ăn trong dạ dày ra càng
tốt.
– Đặt trẻ nằm ở tư thế nào trước khi gây
nôn là rất quan trọng. Phải để trẻ nằm đầu thấp, đầu hơi nghiêng rồi móc
họng để trẻ nôn thức ăn ra. Móc sạch thức ăn trẻ nôn ra rồi dùng khăn
mềm lau sạch miệng trẻ.
– Khi nôn, trẻ hay bị sặc lên mũi, người
lớn phải nhanh chóng dùng miệng hút mũi trẻ nếu không trẻ sẽ bị sặc, khó
thở và có thể dẫn đến tử vong.
– Bổ sung oresol cho bé. Nôn mửa, đi
ngoài nhiều khiến các bé mất nước và rối loạn chất điện giải, cơ thể mệt
lả. Vì vậy cần bổ sung đầy đủ nước và chất điện giải nếu không sẽ nguy
hiểm đến tính mạng.
Lưu ý:
– Trong trường hợp trẻ bị hôn mê tuyệt đối không tiến hành gây nôn vì như vậy sẽ rất dễ gây sặc thức ăn hoặc tắc thở.
– Sau khi tiến hành sơ cứu tạm thời,
người lớn hãy đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ rửa ruột và
làm tiến hành các điều trị cần thiết.
– Tuyệt đối không cho bé dùng thuốc cầm
tiêu chảy. Khi bị tiêu chảy do ngộ độc thực phẩm không cần vội uống
thuốc ngay, chỉ cần nguồn thức ăn bị tống hết ra ngoài hoặc tiêu hóa hết
thì bệnh sẽ khỏi.
5. Sơ cứu bé khi bị vật sắc nhọn đâm
Những đồ vật, dụng cụ gia dụng hàng ngày như: dao, kéo, đinh,…rất có thể là “thủ phạm” gây ra tai nạn cho các bé.
Viêc nên làm:
– Trước tiên hãy rửa sạch và sát trùng
vết thương cho bé bằng oxy già hoặc nước muối, và băng cố định dị vật
tại chỗ bằng khăn xô đủ chặt để cầm máu.
– Nếu vết thương rất sâu và chảy nhiều máu, sau khi sơ cứu phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.
– Khi các vật gây thương tích có dính bùn
đất, hoặc gỉ sét có thể gây uốn ván và các nhiễm trùng nặng khác, nên
đưa bé đi tiêm phòng.
Lưu ý:
– Khi thấy bé gặp phải tai nạn này, cha mẹ tuyệt đối không tìm mọi cách để lấy vật sắc nhọn đã cắm sâu ra khỏi vết thương.
– Nếu vết thương ở ngay mạch máu thì nên
ấn vào đường đi của mạch máu ở phía trên vết thương, đồng thời băng ép
đủ chặt để cầm máu.
Nắm rõ những cách sơ cứu cho trẻ ngay tại
nhà là điều kiện kiên quyết để bố mẹ có thể giúp bé phần nào thoát khỏi
những nguy hiểm. Do đó, để đảm bảo an toàn cho con thì bố mẹ hãy cố
gắng trở thành một thầy thuốc giỏi ngay chính trong gia đình mình.
Mắt của bé mới sinh cần
một thời gian để có thể thích nghi với môi trường mới vì vậy ban đầu mắt
bé sẽ không nhìn hoặc hoạt động theo cách bạn mong đợi.
Điều này là hoàn toàn bình thường trong 3
tháng đầu sau khi bé được sinh ra. Tuy nhiên có những dấu hiệu cho thấy
mắt của bé nhất định đang gặp vấn đề. Hãy đến gặp bác sĩ chuyên khoa
nhi hoặc mắt ngay khi bạn để ý thấy bé có một trong các dấu hiệu sau:
1. Đôi mắt của bé di
chuyển không bình thường. Một mắt di chuyển còn mắt kia thì không. Hoặc
một mắt không di chuyển giống như mắt còn lại.
2. Bé đã hơn 1 tháng tuổi nhưng ánh sáng, các vật di chuyển,… không khiến cho bé nhìn theo.
3. Bé bị mắt nhắm mắt mở.
4. Mắt bé có một điểm
bất thường luôn hiện diện trong các tấm hình chụp bé. Không tính đến
hiện tượng mắt đỏ gây ra bởi đèn flash, nhưng bạn để ý thấy một hoặc hai
bên mắt của bé luôn hiện diện đốm trắng trong mọi bức ảnh.
5. Mẹ nhìn thấy có điểm hoặc vùng màu trắng, xám, vàng trong tròng đen của bé.
6. Một hoặc cả hai mắt của bé sưng phồng lên.
7. Đỏ một hoặc hai bên mắt kéo dài nhiều ngày.
8. Mắt bé có ghèn mủ ở một hoặc hai bên.
9. Có vẻ bé chảy nhiều nước mắt hơn bình thường.
10. Một hoặc hai bên mí mắt bé tự nhiên sụp xuống.
11. Bé nheo mắt thường xuyên hơn mọi ngày.
12. Bé thường xuyên đưa tay dụi mắt khi đang tỉnh táo (tránh trường hợp mẹ nhầm với lúc bé đang buồn ngủ hoặc mới ngủ dậy).
13. Mắt bé có vẻ nhạy cảm với ánh sáng.
14. Mẹ nhận thấy mắt bé
có gì đó khác hơn so với bình thường. Hãy tin vào khả năng quan sát của
mình vì ba mẹ chính là những người gặp bé hàng ngày và có thể nhận ra
dù là một thay đổi nhỏ của bé.
báo động mắt của bé có vấn đề
Đặc biệt, khi bé nhà bạn được 3 tháng, hãy gặp bác sĩ để được tư vấn khi bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:
1. Một hoặc hai bên mắt bé lệch vào trong, hoặc ra ngoài hoặc không di chuyển.
2. Bé không nhìn theo đồ chơi khi bạn đưa đồ chơi từ bên này sang bên kia của bé.
3. Mắt bé có vẻ như “ngọ nguậy” qua lại hoặc lên xuống.